GIẢI PHÁP NÀO CHO CHẤT THẢI RẮN Ở ĐỒNG NAI?
30/06/2006
Đồng Nai là một trong những tỉnh hiện đang dẫn đầu cả nước về phát triển công nghiệp với 17/23 khu công nghiệp (KCN) tập trung đã đi vào hoạt động (chưa kể các cụm công nghiệp địa phương). Công nghiệp phát triển, các hoạt động bảo vệ môi trường tuy đã được tỉnh quan tâm từ khâu kêu gọi, tiếp nhận đến triển khai các dự án đầu tư trong các KCN, nhưng vấn đề thu gom và xử lý các chất thải phát sinh như: nước thải, khí thải và đặc biệt là chất thải rắn (sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại) đang là vấn đề đặt ra khá cấp bách...
*CHẤT THẢI RẮN KHÔNG NGỪNG GIA TĂNG...
Qua số liệu tổng hợp trong 5 năm: 2001-2005 cho thấy, chiều hướng phát sinh chất thải rắn trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng lên theo thời gian. Trong đó, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh : 328.500 tấn/năm; chất thải rắn công nghiệp không nguy hại: 140.000 tấn/năm; chất thải công nghiệp nguy hại: 20.000 tấn/năm. So với năm 2001, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt năm 2005 đã tăng 9 lần, khối lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và chất thải nguy hại năm 2005 tăng khoảng 3 lần.
Chất thải rắn công nghiệp (không nguy hại và nguy hại) và chất thải rắn sinh hoạt có tác động tiêu cực lớn tới môi trường, làm tăng thêm thành phần và nồng độ các chất gây ô nhiễm trong đất và nguồn nước, gây phát sinh các mầm bệnh cho người và động vật, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên sinh vật khác, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại. Chất thải rắn không được xử lý hiệu quả còn tạo nên mùi hôi thối, gây suy giảm chất lượng không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, làm mất mỹ quan và cảnh quan môi trường văn minh tại các khu vực đô thị, khu công nghiệp và vùng nông thôn. Tuy nhiên, gây tác động chính đến vấn đề này hiện nay vẫn là chất thải rắn sinh hoạt do khối lượng phát sinh lớn, chủng loại đa dạng và bãi xử lý chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh đến nay vẫn chưa đầu tư, vận hành hiệu quả.
Trước tình hình này, tỉnh Đồng Nai đã chỉ đạo triển khai các đề án: “Quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020” (được bố trí trên từng địa bàn các huyện, thị xã Long Khánh và TP Biên Hòa); “Quy hoạch khu xử lý chất thải công nghiệp” (diện tích 100 ha tại xã Giang Điền, huyện Trảng Bom)...Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức, quần chúng nhân dân đang từng bước được thực hiện. Việc tăng cường đầu tư nguồn ngân sách để xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh (như bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt và công nghiệp tại phường Trảng Dài, TP Biên Hòa) và tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh cũng đã được quan tâm nên từ đó việc thu gom, xử lý chất thải rắn đã có nhiều chuyển biến tích cực .
*NHỮNG TỒN TẠI, BẤT CẬP
Tuy đã được quan tâm nhưng nhìn chung công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập; tỷ lệ thu gom xử lý chưa đạt yêu cầu (chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý chỉ đạt 40-50%; chất thải rắn công nghiệp không nguy hại chỉ đạt 50- 60%; chất thải nguy hại chỉ đạt 15-20%). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do việc triển khai thực hiện hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến chất thải rắn, nhất là “Quy định về việc lựa chọn và tìm địa điểm bãi chôn lấp chất thải rắn”; “Quy trình hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại”...vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, kể cả việc quy hoạch địa điểm chôn lấp và chi phí xử lý chất thải rắn; công nghệ xử lý; tiêu chuẩn xử lý chất thải rắn...Nguồn kinh phí (ngân sách nhà nước và nguồn vốn các doanh nghiệp...) đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường còn hạn chế, dẫn đến đầu tư bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và hoạt động xử lý chất thải rắn, kể cả chất thải nguy hại vẫn không đồng bộ, kết quả xử lý bảo vệ môi trường chưa đạt yêu cầu. Công tác tổ chức thực hiện quản lý chất thải rắn của các ngành, các cấp vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức về tổ chức lập dự án đầu tư; xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, đúng quy định. Đề án quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 đã được tỉnh phê duyệt từ năm 2000, nhưng đến nay, các huyện, thị xã vẫn chưa tiến hành triển khai xây dựng và vận hành hiệu quả. Việc xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia, tuy đã phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên toàn địa bàn tỉnh. Giữa các ngành, các cấp chưa có các giải pháp thống nhất trong việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt mang tính chất liên huyện, liên đô thị và phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh. Trong quá trình triển khai xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn chưa định hướng cụ thể việc kết hợp tái sử dụng chất thải bằng các giải pháp công nghệ phù hợp, để tăng tuổi thọ bãi chôn lấp và kịp thời xử lý lượng tồn đọng chất thải gây ô nhiễm môi trường.
Về chất thải công nghiệp (không nguy hại và nguy hại), các doanh nghiệp, đơn vị chủ nguồn thải chưa thực hiện đầy đủ hoạt động bảo vệ môi trường; nhận thức chưa đầy đủ về mức nguy cơ tác động tiềm tàng của chất thải nguy hại; kiểm soát chưa triệt để các phương ứng cứu sự cố chất thải nguy hại rò rỉ thất thoát. Tình trạng mua bán chất thải nguy hại dưới dạng hàng hóa thương mại diễn ra khá phổ biến. Các chủ thu gom, xử lý chất thải nguy hại còn hạn chế trong việc đầu tư công nghệ xử lý tương ứng vớí thành phần và tính chất nguy hại, dẫn đến các công nghệ xử lý hiện tại mang tính đối phó vận hành không hiệu quả theo các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
*GIẢI PHÁP NÀO CHO CHẤT THẢI RẮN?
Trong phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ đến năm 2010, tỉnh Đồng Nai xác định sẽ quyết tâm ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường; giải quyết cơ bản tình trạng suy thoái môi trường tại các khu công nghiệp, khu đô thị trong tỉnh; từng bước cải thiện chất lượng môi trường, đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng về môi trường, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động quản lý chất thải, phấn đấu thu thu gom, xử lý 80% chất thải rắn sinh hoạt, hơn 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế. Theo đó, khu liên hợp xử lý chất thải rắn tại xã Quang Trung (huyện Thống Nhất) có khả năng sẽ được mở rộng thành khu xử lý chất thải rắn liên huyện: Thống Nhất-thị xã Long Khánh và các khu công nghiệp kế cận với quy mô 100 hécta. Khu liên hợp xử lý chất thải rắn tại xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) có diện tích khoảng 100 hécta sẽ là bãi xử lý chất thải rắn tập trung cho TP.Biên Hòa và 2 huyện: Vĩnh Cửu, Trảng Bom. Riêng khu liên hợp xử lý chất thải rắn tại xã Bàu Cạn (huyện Long Thành) có quy mô 100 hécta dự kiến sẽ là khu xử lý chất thải rắn tập trung cho cả 2 huyện: Long Thành và Nhơn Trạch.
Để thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, việc cần thiết hiện nay là ban hành Quy chế “quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh” để thu gom xử lý chất thải rắn một cách thống nhất, đồng bộ, nhằm kịp thời xử lý, khắc phục và cải thiện chất lượng môi trường do tác động chất thải rắn gây ra, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường; thành lập doanh nghiệp dịch vụ công ích làm nòng cốt để thu gom, xử lý chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh; khuyến khích xã hội hóa để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đúng quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý chất thải rắn theo đúng Quy chế quản lý chất thải nguy hại của Chính phủ; Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế; Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 27-6-2005 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý chất thải rắn tại các khu đô thị và khu công nghiệp; Quy định bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất của Bộ TN-MT; kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm quản lý chất thải nguy hại nhằm phát huy hiệu quả trong công tác phòng chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và tài nguyên môi trường.
Lê Văn Bình